Thứ Sáu, 5 tháng 4, 2013

Lời kêu gọi Công lý


Lời kêu gọi Công lý


Chúng ta, những người xướng lên bản Tuyên ngôn Công lý cho Đoàn Văn Vươn, nhận thức rằng:

Phiên tòa xét xử Đoàn Văn Vươn trong 3 ngày qua đã vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc tố tụng cơ bản:
  • Vi phạm Điều 10, Bộ luật Tố tụng hình sự: “Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo.”
  • Vi phạm Điều 18, Bộ luật Tố tụng hình sự: “Việc xét xử của Toà án được tiến hành công khai, mọi người đều có quyền tham dự, trừ trường hợp do Bộ luật này quy định.”
  • Vi phạm Điều 218, Bộ luật Tố tụng hình sự: “Người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác. Chủ toạ phiên toà không được hạn chế thời gian tranh luận, tạo điều kiện cho những người tham gia tranh luận trình bày hết ý kiến…”
Chúng ta thực sự lo ngại bản án mà Tòa án Nhân dân TP. Hải Phòng sẽ tuyên vào ngày hôm nay, 5/4/2013.

Vì lẽ đó, 

Chúng ta một lần nữa kêu gọi ông Phạm Đức Tuyên – Phó Chánh án Tòa án Nhân dân TP. Hải Phòng, chủ tọa phiên tòa, ông Trần Mạnh Hùng – Thẩm phán, các ông Bùi Đăng Dung và Nguyễn Thanh Bình – Kiểm sát viên giữ quyền công tố, cùng Hội thẩm nhân dân (bao gồm ông Hà Văn Nhiều, ông Nguyễn Chanh và bà Nguyễn Thị Vinh) hãy can đảm thực hiện đúng vai trò xét xử của mình, một cách độc lập và khách quan nhất, trong việc phân định đâu là Công lý. Các vị có thể làm được nếu có quyết tâm! Và nhờ đó tên tuổi của các vị sẽ được nhắc đến như một biểu tượng của Công lý vào ngày 5/4/2013 và cả mai sau.

Chúng ta cũng kêu gọi, Đại tá Đỗ Hữu Ca – Giám đốc Công An TP. Hải Phòng, sau khi phiên tòa sơ thẩm xét xử ông Đoàn Văn Vươn và thân nhân kết thúc, bằng chính lương tâm của mình, hãy suy ngẫm và tự phán xét rằng: “Với những gì mình đã làm, liệu mình có nên tiếp tục đảm nhiệm vị trí hiện nay hay không?”

Chúng ta cũng kêu gọi, chính quyền nhân dân các cấp có liên quan tới vụ án, trên tinh thần thượng tôn pháp luật, hãy dũng cảm thừa nhận những sai trái của mình nếu có, và hãy nỗ lực hành xử sao cho đích thực là những công bộc của nhân dân. 

Chúng ta cũng kêu gọi các nhóm người đang tạo dựng đặc quyền từ đất đai, hãy hoạt động trên nền tảng của sự lương thiện, đừng vì lợi ích cục bộ mà làm phân hóa xã hội, tạo nên những hệ lụy bất thường.

Chúng ta cũng không quên kêu gọi các luật sư, luật gia, các sinh viên luật hãy luôn là người gìn giữ cán cân Công lý, là ngọn cờ tiên phong, dấn thân vì nền Công lý đang còn chịu thử thách.

Và Chúng ta, những con người thuộc về lương tri và lẽ phải, một lần nữa kêu gọi Công lý trở về. Không chỉ cho gia đình Đoàn Văn Vươn, mà cho cả chính Chúng ta với một sự bảo đảm bằng an và thịnh vượng cho thế hệ tương lai.
---

Những người Việt Nam, dù đang ở bất kỳ nơi đâu, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, hãy tiếp tục tiếp sức cho bản Tuyên Ngôn Công lý cho Đoàn Văn Vươn, dù biết ánh sáng Công lý cho Đoàn Văn Vươn có thể bị che mờ, nhưng Chúng ta ngày hôm nay, những người cùng ký tên vào bản Tuyên ngôn đã là những chiến hữu quyết tâm bảo vệ lẽ phải và và gìn giữ cho lương tri được ngời sáng!

Sài Gòn, 5/4/2013, 10hAM

Nhóm khởi xướng Tuyên ngôn Công lý cho Đoàn Văn Vươn

Ký tên ủng hộ Công lý cho Đoàn Văn Vươn TẠI ĐÂY

Xem danh sách ký tên TẠI ĐÂY

Tuyên ngôn: Công lý cho Đoàn Văn Vươn



Tuyên ngôn: Công lý cho Đoàn Văn Vươn


[Link tới trang ký tên ủng hộ có ở cuối bài, hoặc ở đây.]

Xét rằng, trong vụ án Đoàn Văn Vươn, chính quyền huyện Tiên Lãng, Hải Phòng đã có nhiều sai phạm trong việc thực hiện ‘công vụ’, vi phạm nguyên tắc thượng tôn pháp luật và đi ngược lại lợi ích của người dân,

Xét rằng, căn cứ truy tố Đoàn Văn Vươn cùng một số thân nhân về tội giết người thi hành công vụ, theo điểm d, Khoản 1, Điều 93, Bộ luật hình sự, và chống người thi hành công vụ, theo điểm d, Khoản 2, Điều 257, cùng bộ luật, là không thỏa đáng, do căn cứ này vi phạm nguyên tắc về tính hợp pháp của công vụ,

Xét rằng, hành vi chống trả của Đoàn Văn Vươn cùng một số thân nhân, xuất phát từ quyền tự vệ và quyền bảo vệ đối với tài sản của gia đình đã được gây dựng trong nhiều năm, là hệ quả của ‘công vụ’ sai pháp luật,

Xét rằng, phiên xử sơ thẩm của vụ án vào tháng Tư tới đây có thể sẽ không đảm bảo được tính khách quan, bởi cáo trạng không lột tả được bản chất sự việc, không làm rõ những chứng cứ và nguyên tắc xác định sự thật của vụ án, cùng nhiều bất cập khác,

Chúng ta, những người nhận thức rõ về các vấn đề trên, xướng lên bản Tuyên ngôn Công lý cho Đoàn Văn Vươn, nhằm nhắc nhở cơ quan xét xử (Tòa án Nhân dân TP. Hải Phòng), phải thực hiện xét xử công minh, tuân thủ các nguyên tắc xét xử của luật quốc gia và luật quốc tế, cùng các chuẩn mực nghề nghiệp khác. Cụ thể như sau: 

Theo Điều 130, Hiến pháp Việt Nam hiện hành, “Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.”

Theo Điều 10, Tuyên ngôn Phổ quát về Nhân quyền, 1948: “Ai cũng có quyền, trên căn bản hoàn toàn bình đẳng, được một toà án độc lập và vô tư xét xử một cách công khai và công bằng để phán xử về những quyền lợi và nghĩa vụ của mình, hay về những tội trạng hình sự mà mình bị cáo buộc.”

Theo Khoản 1, Điều 14, Công ước Quốc tế về Các Quyền Dân sự & Chính trị, 1966, mà Việt Nam đã gia nhập và do đó có nghĩa vụ thực hiện: “Mọi người đều bình đẳng trước các toà án và cơ quan tài phán. Mọi người đều có quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một toà án có thẩm quyền, độc lập, không thiên vị và được lập ra trên cơ sở pháp luật...”

Tuyên ngôn của chúng ta, những người yêu chuộng lẽ phải, không chỉ nhắc nhở, mà còn khuyến khích cơ quan xét xử hãy can đảm và thực hiện đúng vai trò quan tòa của mình, một cách độc lập và khách quan nhất có thể, trong việc phân định đâu là công lý.

Và vì thế, chúng ta ký tên vào bản tuyên ngôn này.

Chúng ta hiểu rằng, sự hưởng ứng dù chỉ bằng một chữ ký, cũng có thể góp phần đáng kể để tạo nên một danh sách hàng vạn chữ ký nhằm làm mạnh mẽ thêm tinh thần của Đoàn Văn Vươn.

Chúng ta hiểu rằng, sự hưởng ứng dù chỉ bằng một chữ ký, cũng có thể góp phần làm cho bóng tối khiếp sợ, và lùi bước trước sự lan tỏa của ánh sáng.

Chúng ta hiểu rằng, mỗi chữ ký của chúng ta, sẽ góp phần làm lay động những người bàng quan, và từ chỗ bàng quan, họ trở thành những chiến hữu.

Chúng ta hiểu rằng, mỗi chữ ký của chúng ta, sẽ góp phần tạo nên sức mạnh lớn lao của lẽ phải, để làm bừng lên ánh sáng công lý cho Đoàn Văn Vươn.

Đồng ký tên khởi xướng cho tuyên ngôn này:

Nhóm sinh viên Luật, TP. HCM:

1. Nguyễn Trang Nhung, Sinh viên Luật, ĐH Luật TP. Hồ Chí Minh, lớp 4B Văn bằng 2 Chính quy, niên khóa 2011-2014

Quote yêu thích: "Ngay cả khi bạn không làm chính trị, chính trị sẽ đến với bạn." (Aung San Suu Kyi) 

2. Bùi Quang Viễn, Sinh viên Luật, ĐH Luật TP. Hồ Chí Minh, lớp 3B Văn bằng 2 Chính quy, niên khóa 2010-2013

Quote yêu thích: "Điều duy nhất giúp cái ác chiến thắng là những người tốt không làm gì cả." (Edmond Burke)

3. Phạm Lê Vương Các, Sinh viên Luật, ĐH Luật TP. Hồ Chí Minh, lớp AUF35 Văn bằng 1 Chính quy, niên khóa 2010-2014

Quote yêu thích: "Hạnh phúc trong tầm tay là biết chủ động dấn thân lựa chọn những khó khổ cho mình." (Phạm Lê Vương Các)  

Sài Gòn, 31/3/2013
---

Hãy để tuyên ngôn này được truyền đi và tiếp sức! Và hãy hi vọng rằng nó sẽ tạo nên một làn sóng hưởng ứng mạnh mẽ để triệu gọi công lý trở về.

Trang ký tên tại: 

Danh sách ký tên được cập nhật lập tức tại:
https://docs.google.com/spreadsheet/ccc?key=0Ag9Hx35xPjoEdElIRDZEZVQ0YndveXFTZ0VmWHlEVGc

Liên hệ với nhóm khởi xướng qua:
tuyenngondvv@gmail.com
---

Declaration: Justice for Doan Van Vuon

(Translated by Doan Trang)

Whereas, in the legal case of Doan Van Vuon (name in Vietnamese: Đoàn Văn Vươn), the local authority of Tien Lang (Tiên Lãng) district, Hai Phong (Hải Phòng) has committed a great many wrongdoings in performing “official duty”, violating the principle of rule of law, acting against the interests of the people;

Whereas, the charge against Doan Van Vuon and his relatives with “murder of persons being on public duties” as stipulated by Point D, Clause 1, Article 93, and “resisting persons in the performance of their official duties” as stipulated by Point D, Clause 2, Article 257, the Penal Code of Vietnam, is wrongful, because this charge violates the requirements of the lawfulness of official duties;

Whereas, the resistance by Doan Van Vuon and his relatives, which is based on his right to self-defense and to protect his family’s long-acquired property, came as a result of the wrongful so-called “official duty”;

Whereas, the magistrate’s court in the coming April may not ensure objectivity, because the indictment has already failed to fully describe the case or to clarify evidence and principles as to verify truth regarding the case, and because of many other shortcomings;

We, those who are fully conscious of the above-mentioned issues, make this Declaration of Justice for Doan Van Vuon, with the purpose of warning the tribunal – the People’s Court of Hai Phong City – to judge rightly and to observe the principles of trial under national and international laws and other codes of conduct.

This goes particularly as follows:

Under Article 30 of the current Vietnamese Constitution, “During trials, judges and people’s assessors are independent and subject only to the law.”

Under Article 10, the 1948 Universal Declaration of Human Rights, “Everyone is entitled in full equality to a fair and public hearing by an independent and impartial tribunal, in the determination of his rights and obligations and of any criminal charge against him.”

Under Clause 1, Article 14, the 1966 International Covenant on Civil and Political Rights, which Vietnam is a signatory and thus is obliged to implement, “All persons shall be equal before the courts and tribunals. (…) Everyone shall be entitled to a fair and public hearing by a competent, independent and impartial tribunal established by law.”

This Declaration of us, who are reason-loving, does not just warn but also encourage the tribunal to be courageous and to rightly implement its function of the judge, in the most possibly independent and objective way, to do justice.

And for these reasons, we sign on this Declaration.

We are aware that the support, even in the form of a signature only, can make substantial contribution to creating a list of thousands of signatures, thus uplifts Doan Van Vuon.

We are aware that the support, even in the form of a signature only, can help intimidate the dark into yielding to the light.

We are aware that each signature of us can help to stir the apathetic, and they will turn from apathy to sympathy to become our friends.

We are aware that each signature of us can contribute to the enormous power of the common sense, thus ignites the light of justice for Doan Van Vuon.
---

Doan Van Vuon, born in 1963, is a farmer in Tien Lang district, Hai Phong province. After serving in the army between 1981 and 1984, then learning at the Hanoi University of Agriculture, he started his own farming business in 1993 by leasing wetlands from the local authorities for fish and shrimp raising within a 14-year period. He also reclaimed land from the sea during his lease.

In 1997 he requested for more land lease, and the request was approved, giving him right to use land for 14 years as from October 4, 1993, while under the 1993 Land Law, tenants are granted “land use right” for a period of 20 years.

In 2007 and 2008, the local People’s Committee issued decisions to evict Vuon from his land. He certainly declined to vacate the fish farms, and this was the prologue for a tragedy. The Tien Lang shootout broke out when Doan Van Vuon’s brothers, using improvised mines and muskets, resisted an eviction by local policemen and soldiers. No one was hurt, but Vuon’s houses were destroyed and leveled to the ground. Vuon and his brother Quy were later detained and charged with “attempted murder”, a very serious crime under the Penal Code of Vietnam.

Local people said they are grateful to Vuon for his reclamation of land, which helped build their coastal community, while his 9-year-old daughter drowned in an accident in 2001. At the same time, Colonel Do Huu Ca, top leader of the local police force, said in an interview with the VnMedia news site that the eviction was “a fine fight” that is “worthy of being brought to book.”

“I told our comrades (…) that this was not a military exercise, but there were actually many things to learn. [The eviction] was very interesting with the spectacular combination between local authorities, the army, the border police, so there is nothing to complain.”

Thứ Hai, 18 tháng 3, 2013

Góp ý về Hiến pháp


Góp ý về Hiến pháp

(tọa đàm ngày 15/03/2013 tại Viện Nghiên cứu Lập pháp,
về các vấn đề kinh tế xã hội trong Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992)
Hoàng Tụy
Tôi rất hoan nghênh chủ trương của Quốc hội kéo dài thời gian lấy ý kiến nhân dân về Hiến pháp đến hết tháng 9, đồng thời tổ chức tọa đàm rộng rãi trong giới trí thức xung quanh những vấn đề lớn đang có nhiều tranh cãi.
Song sẽ là tốt hơn nếu trước đó không có những quy kết tùy tiện đối với những ý kiến trái chiều, dù những ý kiến này thật ra rất xây dựng và xuất phát từ những công dân chỉ có một tội là thiết tha với đất nước và ngày đêm trăn trở vì sự nghiệp độc lập, thống nhất của Tổ quốc và tự do, hạnh phúc của nhân dân – hay theo cách nói sau này: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh – một sự nghiệp mà vì nó biết bao người con ưu tú của đất nước đã ngã xuống và cả dân tộc đã chịu đựng biết bao hy sinh, nhọc nhằn trong mấy chục năm chiến tranh tàn khốc mà đến nay phần lớn mục tiêu vẫn đang còn ở phía trước. Sẽ là tôt hơn nữa nếu Ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp chưa vội tuyên bố bảo lưu tất cả những điểm chính, vì như thế khác nào thừa nhận việc hô hào nhân dân góp ý chỉ là hình thức, và bao nhiêu thời gian, của cải, công sức, của dân bỏ ra để góp ý chỉ là một sự lãng phí vô trách nhiệm.
Trước tình hình đó, những ai trăn trở về vận nước nguy vong làm sao không đắn đo suy nghĩ được. Tôi nghĩ vào lúc này, khi kinh tế lụn bại, xã hội nhiễu nhương, tham nhũng hoành hành, bờ cõi biên cương hải đảo đang bị uy hiếp nghiêm trọng, thì mọi người tử tế nên dẹp mọi suy tính cá nhân, cùng nhau vận dụng trí tuệ suy nghĩ tìm một lối ra ít đau đớn nhất cho dân tộc thay vì cố thủ trong những thành kiến, định kiến đã lỗi thời.

Trên tinh thần đó, tôi xin phát biểu thẳng thắn một số ý kiến về đề tài tọa đàm hôm nay, chủ yếu tập trung về hai Điều 54 và 57 trong bản Dự thảo.
Nói vắn tắt, đây thực chất cũng chỉ là những ý kiến đã được trình bày cô đọng nhưng khá đầy đủ trong bản Kiến nghị bảy điểm về sửa đổi Hiến pháp 1992 của 72 công dân.
1. Điều 54, Mục 1 ghi: “Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế”. Xin đề nghị bỏ hẳn cụm từ “định hướng xã hội chủ nghĩa” vì nội hàm rất mù mờ mà theo kinh nghiệm thực tế nhiều năm qua chỉ là cái cớ để hạn chế, cản trở, thu hẹp thị trường, khiến nhiều nước đến nay vẫn chưa chịu công nhận kinh tế thị trường cho ta. Có lẽ vì cái định hướng xã hội chủ nghĩa đó nên mới cố bám chặt cái chủ trương lấy kinh tế nhà nước làm chủ đạo, dốc hết vốn liếng tiền của, tài nguyên trí lực vào đó, chẳng những không có hiệu quả, mà còn cản trở sự phát triển lành mạnh của đất nước, làm cho đất nước kiệt quệ, chồng chất nợ nần không biết bao giờ mới trả hết được, lại gây ra biết bao tệ nạn trong xã hội. Có thể nói mọi tai ương bắt nguồn từ cái nhận thức sai lầm về chủ nghĩa xã hội theo kiểu giáo điều Liên Xô cũ. Giờ đây bản Dự thảo đã mạnh dạn từ bỏ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước, đó là một bước tiến đáng kể, thế thì còn lý do gì bám giữ cái đuôi “định hướng xã hội chủ nghĩa” cho rắc rối.
Lần lại lịch sử có thể thấy rằng trước đây, theo lý luận chủ nghĩa xã hội của Liên Xô cũ (cũng là lý luận chính thống của Đảng Cộng sản Việt Nam lúc đó), kinh tế xã hội chủ nghĩa là kinh tế kế hoạch hóa tập trung, không chấp nhận cơ chế thị trường. Cho nên năm 1968 khi nhà lãnh đạo Tiệp Khắc Dubcek chủ trương sử dụng cơ chế thị trường trong chủ nghĩa xã hội thì lý thuyết “chủ nghĩa xã hội thị trường” ấy của Dubcek đã ngay lập tức bị Liên Xô và cả phe xã hội chủ nghĩa, gồm cả Việt Nam, lên án là lý thuyết phản động nguy hiểm. Đến mức để cứu chủ nghĩa xã hội ở Tiệp Khắc, Liên xô đã đưa quân đội vào Tiệp Khắc lật đổ Dubcek, và cuộc can thiệp quân sự tàn bạo ấy đã được Việt Nam và cả phe xã hội chủ nghĩa lên tiếng ủng hộ mạnh mẽ. Thế mà chưa đầy hai mươi năm sau đó, để vượt qua khủng hoảng kinh tế xã hội giữa thập kỷ 80 thế kỷ trước, chúng ta đã chấp nhận chính cái kinh tế thị trường trước đây đã từng bị phê phán kịch liệt và, như để tự trấn an, cái đuôi “định hướng xã hội chủ nghĩa” được gán thêm vào, tương tự như cái tên chủ nghĩa xã hội thị trường của Dubcek.
Qua đó thấy rõ ngay trong nội bộ Đảng và các nhà cầm quyền nhận thức về chủ nghĩa xã hội cũng đã thay đổi ngược hẳn lại, ngay ở những nội dung cơ bản. Gì thì gì, thực tiễn chứ không phải giáo điều mới có thể có tiếng nói quyết định cuối cùng cho chính sách và hành động của một đảng thật sự vì dân.
Cũng có người cho rằng cái đuôi “định hướng xã hội chủ nghĩa” là để hạn chế những mặt trái của kinh tế thị trường. Thật ra kinh tế thị trường chẳng có mặt trái nào cả, những tiêu cực phát sinh chẳng qua là do hiểu và thực hiện không đúng kinh tế thị trường. Một xã hội muốn phát triển lành mạnh, bền vững, thì cùng với Nhà nước pháp quyền, và kinh tế thị trường, còn rất cần một nhân tố nữa là xã hội dân sự. Chính cái xã hội dân sự này giúp điều chỉnh những lệch lạc tự phát khi vận hành bộ máy nhà nước và kinh tế thị trường. Một khi xã hội dân sự còn rất yếu kém, chẳng những không được khuyến khích phát triển, trái lại còn bị xem là kế sách của các thế lực thù địch đang âm mưu thực hiện “diễn biến hòa bình” thì bộ máy nhà nước dễ dàng xa dân, quên dân, đối lập với dân, và kinh tế thị trường cũng dễ dàng bị méo mó, xuyên tạc, nhất là về mặt đạo đức xã hội. Cho nên bàn về kinh tế lại không thể không quay về quyền con người và quyền công dân là những quyền đương nhiên phải được hiến định minh bạch và triệt để tôn trọng thì mới có thể có xã hội dân sự phát triển.
2. Điều 57 ghi: “Đất đai, …, thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý theo quy định của pháp luật”. Dù muốn biện minh cách gì cũng không thể phủ nhận đây là điểm mắc mứu quan trọng đã gây nên biết bao thảm cảnh đau lòng những năm qua, đẩy người dân hiền lành đến chỗ có lúc không chịu nổi, phải đứng lên chống lại chính quyền địa phương để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình bỗng nhiên bị xâm phạm, bị tước đoạt không phải vì lợi ích của đất nước mà chẳng qua vì lòng tham ích kỷ của quan chức các cấp, nhân danh Nhà nước bắt tay với nhiều tư nhân, doanh nghiệp để trục lợi, hại dân. Đã có quá nhiều ý kiến đề nghị nên thay đổi quy định này, dựa trên những cơ sở pháp lý vững chắc. Bản Kiến nghị của 72 công dân cũng đã nói rõ vì sao quy định này là một trong những điều bất công tệ hại nhất đã làm giảm nghiêm trọng niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Vì vậy có lẽ không cần thiết phải nói thêm gì nữa về tác hại của một chủ trương mà thực tế đau buồn hai mươi năm qua đã hoàn toàn bác bỏ.
Tuy nhiên giở lại lịch sử có thể soi sáng thêm bản chất vấn đề. Quan điểm đất đai thuộc sở hữu toàn dân xuất hiện đầu tiên trong Hiến pháp 1980 chỉ là sao chép theo Hiến pháp Liên Xô cũ và do đó được cho là dựa theo lý luận chính thống xây dựng chủ nghĩa xã hội. Hồi đó, sau hàng loạt biểu hiện tráo trở của Trung Quốc và nhất là sau cuộc chiến xâm lược của họ năm 1979, Liên Xô đối với Việt Nam trở thành nhà nước xã hội chủ nghĩa mẫu mực. Trong chế độ xã hội chủ nghĩa đó, toàn thể nông thôn đã hợp tác hóa từ lâu, đất đai thuộc sở hữu toàn dân là đương nhiên. Miền Bắc nước ta khi ấy cũng đã hợp tác hóa rồi, Miền Nam thì đang trên con đường hợp tác hóa, theo khẩu hiệu cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hộị. Trong khung cảnh quốc tế và nội tình đó, sự xuất hiện quan điểm đất đai thuộc sở hữu toàn dân trong Hiến pháp cũng là dễ hiểu. Không ai, kể cả những người cấp tiến trong giới cầm quyền lúc bấy giờ, có thể tiên lượng được hết những hệ lụy gì của quan điểm đó khi tình hình thay đổi.
Những hệ lụy này chỉ mới dần dần hiện rõ và trở nên ngày càng trầm trọng trong tiến trình đổi mới. Một mặt, hợp tác xã ở Miền Bắc dần dần tan rã, còn ở Miền Nam không còn ai dám nghĩ đến hợp tác hóa như ở Miền Bắc trước kia nữa. Mặt khác, đội ngũ cán bộ quan chức ngày càng tha hóa, biến chất, một bộ phận không nhỏ mà ngày càng lớn dần trở nên hư hỏng hoàn toàn. Trong tình hình mới đó, những quy định luật pháp lỏng lẻo đi liền với quyền sở hữu toàn dân về đất đai trở thành chỗ dựa pháp lý lý tưởng để các quan chức mọi cấp ra sức trục lợi trên lưng nông dân nghèo khổ. Hệ lụy tất yếu là đấu tranh, khiếu kiện ngày càng lan rộng, ban đầu tự phát càng về sau càng có ý thức. Hết Tiên Lãng đến Văn Giang và nhiều nơi khác, mà đó chỉ mới là phần nổi của tảng băng chìm. Rõ ràng quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân trước đây có vẻ đương nhiên trong chế độ toàn nông thôn hợp tác hóa nay đã trở nên mâu thuẫn gay gắt với những đổi mới ở nông thôn. Nó hoàn toàn không phù hợp nữa, chí ít cũng không hợp lòng dân ở giai đoạn này và trong tình hình sa sút đạo đức nghiêm trọng của cả hệ thống chính trị rất dễ dàng bị lợi dụng để đè nén, áp bức, nhũng nhiễu dân mà vẫn không bị pháp luật trừng trị.
Bài học rút ra từ những chuyện bàn ở trên là không có, không bao giờ có thể có, một lý thuyết hoàn thiện về chủ nghĩa xã hội để rồi cứ thế mãi mãi áp dụng thành công. Mục tiêu phấn đấu của toàn thể cộng đồng dân tộc Việt Nam và cũng là mục tiêu phấn đấu cao cả nhất của một đảng thật sự vì dân vì nước chỉ có thể là: dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, theo những tiêu chí phổ quát của nhân loại đương thời. Chỉ có trên quan điểm đó mới có thể có một Hiến pháp quy tụ, đoàn kết được mọi tầng lớp nhân dân, thực hiện hòa giải dân tộc, vượt qua khủng hoảng và tình hình nguy cấp hiện tại để tiến lên một giai đoạn phát triển mới đầy hứa hẹn của đất nước.
H. T.
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN.
http://boxitvn.blogspot.com/2013/03/gop-y-ve-hien-phap.html#more

Thứ Ba, 27 tháng 11, 2012

TUYÊN BỐ PHẢN ĐỐI NHÀ CẦM QUYỀN TRUNG QUỐC IN HÌNH “LƯỠI BÒ” LÊN HỘ CHIẾU CÔNG DÂN


TUYÊN BỐ PHẢN ĐỐI NHÀ CẦM QUYỀN TRUNG QUỐC IN HÌNH “LƯỠI BÒ” LÊN HỘ CHIẾU CÔNG DÂN


Nguồn:http://xuandienhannom.blogspot.com/2012/11/bo-phan-oi-nha-cam-quyen-trung-quoc-in.html
Chúng tôi, những người ký tên vào Tuyên bố này, cực lực phản đối hành động khiêu khích mới của nhà cầm quyền Trung Quốc cho in đường 9 đoạn bao trùm hầu hết Biển Đông (thường gọi là đường “lưỡi bò”) lên hộ chiếu cấp cho công dân nước mình. Hành động được tính toán này cho thấy nhà cầm quyền Trung Quốc ngoan cố tiếp tục thực hiện mọi thủ đoạn nhằm thôn tính Biển Đông, mở đường cho những bước leo thang mới của Trung Quốc trực tiếp xâm phạm chủ quyền quốc gia của các nước có liên quan trên Biển Đông, uy hiếp nghiêm trọng hòa bình và ổn định trong khu vực. Bước đi mới này bóc trần sự giả dối của các nhà lãnh đạo Trung Quốc khi nói tại Đại hội 18 của Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng như tại Hội nghị cấp cao Đông Á lần thứ 7 mới đây về hòa bình, hữu nghị và hợp tác với các nước, đặc biệt là các nước ven Biển Đông.

Đã có nhiều nước trên thế giới nghiêm khắc lên án những hành động trái luât pháp quốc tế này của nhà cầm quyền Trung Quốc và không chấp nhận hộ chiếu của công dân Trung Quốc có in hình xâm phạm chủ quyền nước khác.

Chúng tôi ủng hộ tuyên bố ngày 22-11-2012 của người phát ngôn Bộ Ngoại giao nước CHXHCNVN, trong đó nêu rõ: “Việc làm trên của Trung Quốc đã vi phạm chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, cũng như chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với các vùng biển liên quan đến Biển Đông”. Chúng tôi đồng tình với những việc làm của các nước trên thế giới lên án bước leo thang mới này của Trung Quốc trong việc thực hiện mưu đồ bành trướng.

Chúng tôi đòi nhà cầm quyền Trung Quốc phải:

-  tôn trọng luật pháp quốc tế và chủ quyền của các quốc gia có liên quan trên Biển Đông,
-   từ bỏ mọi âm mưu “bẻ từng cái đũa trong bó đũa” chia rẽ các nước ASEAN trong vấn đề Biển Đông cũng như mọi việc làm cản trở sự thông qua Quy tắc ứng xử (Code of Conduct – COC) mà tất cả các quốc gia liên quan phải tôn trọng trên Biển Đông.

Chúng tôi cùng nhân dân cả nước kiên quyết đấu tranh bảo vệ chủ quyền quốc gia đối với các vùng biển và hải đảo của nước mình trên Biển Đông, đồng thời đoàn kết và cùng hành động với nhân dân các nước hữu quan đấu tranh cho hòa bình, ổn định, hữu nghị, hợp tác và cùng phát triển trên Biển Đông.

Chúng tôi luôn luôn coi trọng tình hữu nghị với nhân dân Trung Quốc, mong nhân dân Trung Quốc hiểu đúng sự thật lịch sử và luật pháp quốc tế về biển, không bị lừa mị và kích động bởi chính sách bành trướng của nhà cầm quyền mang danh chủ nghĩa dân tộc.

Chúng tôi, những người ký đầu tiên vào tuyên bố này mong đồng bào ở trong và ngoài nước tham gia ký tên để biểu thị sự đoàn kết nhất trí của dân tộc ta kiên quyết chống mọi hành vi xâm phạm chủ quyền quốc gia.

Hà Nội – Huế – Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 25.11.2012


ĐỒNG KÝ TÊN:

1. Nguyễn Đình Đầu, nhà nghiên cứu, TP HCM
2. Hoàng Tụy, GS TS, nguyên Chủ tịch Hội đồng Viện IDS
3. Trần Việt Phương, nguyên chuyên gia tư vấn của các Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải
4. Trần Đức Nguyên, nguyên chuyên gia tư vấn của các Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải
5. Vũ Quốc Tuấn, nguyên Trợ lý Thủ tướng Võ Văn Kiệt, nguyên chuyên gia tư vấn của các Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải
6. Huỳnh Công Minh, Linh mục, Giáo phận Sài Gòn
7. Hồ Ngọc Nhuận, Ủy viên UBTƯMTTQVN, Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ TP HCM, nguyên Giám đốc chính trị nhật báo Tin Sáng
8. Phaolô Nguyễn Thái Hợp, Giám mục Giáo phận Vinh
9. Lê Xuân Khoa, GS, Hoa Kỳ
10. Hà Dương Tường, nguyên GS Đại học Công nghệ Compiègne, Pháp
11. Đặng Lương Mô, GS TS, nguyên Viện trưởng Học viện Quốc gia Kỹ thuật Sài Gòn, nguyên GS Đại học Hosei, Tokyo, hiện là cố vấn Đại học Quốc gia TP HCM
12. Trần Văn Thọ, GS TS, Đại học Waseda, Tokyo
13. Lê Văn Tâm, TS, Ủy viên UBTƯMTTQVN, nguyên chủ tịch Hội Người Việt Nam ở Nhật, Tokyo
14. Nguyễn Ngọc Giao, dạy học, Pháp
15. Lê Đăng Doanh, nguyên chuyên gia tư vấn của Thủ tướng Chính      phủ, nguyên Viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế Trung ương
16. Nhà thơ Hoàng Hưng, TP HCM
17. Hà Văn Thịnh, Đại học Khoa học Huế
18. Nguyễn Văn Dũng, võ sư, thành phố Huế
19. Trần Đắc Lộc, cựu giảng viên Đại học Khoa học Huế, hiện cư trú tại Cộng hòa Czech
20. Nguyên Ngọc, nhà văn, nguyên thành viên của Viện IDS
21. Đào Công Tiến, nguyên Hiệu trưởng Đại học Kinh tế TP HCM
22. Trần Quốc Thuận, Luật sư, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội
23. Lê Công Giàu, nguyên Phó Bí thư thường trực Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh Thành phố Hồ Chí Minh, TP HCM
24. Huỳnh Tấn Mẫm, bác sĩ, Đại biểu Quốc hội khóa 6, nguyên Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn trước 1975, TP HCM
25. Lê Hiếu Đằng, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tại Thành phố HCM, TP HCM
26. Trần Văn Long, nguyên Phó Bí thư Thành đoàn TP HCM, nguyên Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty du lịch Sài Gòn (Saigontourist), TP HCM
27. Kha Luơng Ngãi, nguyên Phó Tổng biên tập báo Sài Gòn giải phóng
28. Cao Lập, cựu tù chính trị Côn Đảo, TP HCM
29. Huỳnh Kim Báu, nguyên Tổng Thư ký Hội Trí thức Yêu nước Thành phố Hồ Chí Minh, TP HCM
30. Phạm Phú Ngọc Trai, Chủ tịch, Tổng Giám đốc Cty Tư vấn Hội nhập toàn cầu GIBC, Chủ tich Câu lạc bộ dẫn đầu LBC (Leading Business Club, VCCI), nguyên Chủ tịch, TGĐ PepsiCo, Indochina
31. Nguyễn Minh Thuyết, GS TS, nguyên Đại biểu Quốc hội, Hà Nội
32. Phan Thị Hoàng Oanh, TS, Đại học Sư phạm TP HCM
33. Đào Duy Chữ, TS, Phú Mỹ Hưng, TP HCM
34. Trần Thanh Vân, kiến trúc sư, Hà Nội
35. Trần Tố Nga, cựu tù chính trị, Pháp
36. Nguyễn Trọng Bình, nguyên Hiệu trưởng Trường Đại học Tại chức Hải Phòng
37. Lê Thân, Cựu tù chính trị Côn Đảo, nguyên Tổng Giám Đốc Riverside, Nha Trang
38. Tống Văn Công, nhà báo, nguyên Tổng biên tập báo Lao Động
39. Phạm Xuân Phương, đại tá, cựu chiến binh, Hà Nội
40. Phạm Khiêm Ích, PGS, Ủy viên UBTƯMTTQVN, nguyên Phó Viện trưởng Viện Thông tin thuộc Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam
41. Nguyễn Huệ Chi, GS, Hà Nội
42. Nguyễn Thế Hùng, GS TS, Đại học Bách khoa, Đà Nẵng, Phó Tổng thư ký Hội Cơ học Thủy khí Việt Nam
43. Phạm Toàn, nhà giáo, Hà Nội
44. Hoàng Dũng, PGS TS, Đại học Sư phạm TP HCM
45. Phạm Văn Đỉnh, TSKH, nguyên giảng viên Đại học UPPA (Pau, Pháp)
46. Nguyễn Phúc Cương, PGS TS, bác sĩ, Hà Nội
47. Nguyễn Gia Hảo, nguyên thành viên Tổ tư vấn của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Hà Nội
48. Nguyễn Hữu Việt Hưng, GS TSKH, giảng viên cao cấp Đại học Quốc gia Hà Nội
49. Phan Quốc Tuyên, kỹ sư tin học, Thụy Sĩ
50. Nguyễn Thịnh Lê, TS, nghiên cứu giảng dạy tại Clausthal University of Technology, CHLB Đức
51. Nguyễn Thế Thanh, nguyên Phó Giám đốc Sở VH-TT TP HCM
52. Phạm Chi Lan, nguyên chuyên gia tư vấn của Thủ tướng Chính phủ (1996-2006), Hà Nội
53. Phạm Công Cường, TS, Hà Nội
54. Trần Minh Hải, Linh mục Công giáo, Gwangju, Hàn Quốc
55. Hoàng Lại Giang, nhà văn, TP HCM
56. Nguyễn Xuân Diện, TS, Viện Hán Nôm, Hà Nội
57. Nguyễn Quốc Thái, nhà báo
58. Nguyễn Quang Lập, nhà văn
59. Võ Quang Dũng, Việt Kiều, CHLB Đức
60. Phạm Quang Tú, Phó Viện trưởng Viện Tư vấn phát triển
61. Nguyễn Quốc Bình, kỹ sư cấp thoát nước TP HCM
62. Trần Công Thạch, hưu trí, TP HCM
63. Nguyễn Vạn Hồng (Cung Văn), nhà báo, nguyên Tổng Thư ký BCH SV Đoàn Đại học Văn khoa Sài Gòn 1964-1965
64. Lương Thị Thuỷ, Hà Nội
65. Nguyễn Thị Khánh Trâm, TP HCM
66. Trần Ngọc Tuấn, nhà báo, nhà văn, báo Xa Xứ tại Cộng Hòa Czech
67. Tô Văn Trường, TS, nguyên Viện trưởng Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam
68. Phan Thế Vấn, bác sĩ, TP HCM
69. Phạm Gia Khánh, cán bộ hưu trí, 92 tuổi, TP HCM
70. Đoàn Công Nghị, Nha Trang
71. Nguyễn Xuân Hoan, chuyên viên kinh tế, TP Pleiku, Gia Lai
72. Lê Duy Mạnh, Sinh viên, Trung Đô – Vinh – Nghệ An
73. Nguyễn Quang Thạch, phụ trách chương trình sách hóa nông thôn Việt Nam, Hà Tĩnh
74. Đại tá Bùi Văn Bồng, Cần Thơ
75. Vũ Kim Hạnh, Chủ tịch Hội Doanh nghiệp Hàng Việt Nam Chất Lượng Cao, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Kinh doanh và Hỗ trợ doanh nghiệp – BSA
76. Nguyễn Kim Khánh, nhà báo nữ, Phó Tổng biên tập Tạp chí Thương gia, Hà Nội
77. Dennis Ho, Hoa Kỳ
78. Nguyễn Phương Tùng, PGS TS, TP HCM
79. Phạm Thanh Liêm, Vũng Tàu
80. Nguyễn Trung Dân, nhà báo, Giám đốc Chi nhánh phía Nam NXB Hội Nhà văn
81. Tô Oanh, TP Bắc Giang
82. Khai Tâm, Nhật Bản
83. Phí Văn Lịch, nguyên Vụ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, Hà Nội
84. Đạt Nguyễn, Surveyor, Australia
85. Trần Hữu Khánh, hưu trí, TP HCM
86. Nguyễn Công Thanh, TP HCM
87. Nguyễn Đăng Hưng, GS TSKH, Giáo sư Danh dự Thực thụ Đại học Liège
88. Nguyễn Hoàng Hải, CHLB Đức
89. Nguyễn Hồng Phương, CHLB Đức
90. Minh Trình Nguyễn, cựu chiến binh, cựu cán bộ nghiên cứu Viện Mác-Lênin, Hà Nội, CHLB Đức
91. Thị Bích Hằng Nguyễn, CHLB Đức
92. Trần Quang Thái, Tổng Thư ký, Phó Chủ tịch thường trực, Hội Hữu nghị Việt-Séc TP. Hồ Chí Minh
93. Nguyễn Cảnh, Hoa Kỳ
94. Đoàn Nhật Hồng, nguyên Giám đốc Sở Giáo dục Lâm Đồng, Đà Lạt
95. Mai Thái Lĩnh, nguyên Phó Chủ tịch Hội đồng Nhân dân Đà Lạt
96. Huỳnh Nhật Hải, nguyên Phó Giám đốc Trường Đảng Lâm Đồng
97. Nguyễn Quang Nhàn, hưu trí, Đà Lạt
98. Phan Đắc Lữ, nhà thơ
99. Phạm Đình Trọng, nhà văn, TP HCM   
100. Đinh Xuân Dũng, cựu dân biểu Sài Gòn, Hoa Kỳ
101. Đỗ Trung Quân, nhà thơ, TP HCM
102. Đặng Ngọc Quang, Phú Thọ
103. Lương Đình Cường, Tổng biên tập báo điện tử NguoiViet, CHLB Đức
104. Phạm Lê Vương Các, sinh viên Luật, TP HCM
105. Nguyễn Đình Hòa, Sales Engineer Văn phòng đại diện AL-KO THERM
106. Huỳnh Ngọc Chênh, nhà báo, TP HCM
107. Huy Đức, nhà báo, TP HCM
108. Hồ Văn Chiến, hưu trí, TP HCM
109. Lê Tấn Hùng, TP HCM
110. Hoàng Quý Thân, PGS TS
111. Lê Mạnh Chiến, hưu trí, Hà Nội
112. Trần Xuân Huyền, lao động tự do, Nghệ An
113. Nguyễn Xuân Liên, Giám đốc Bảo tàng chiến tranh ngoài trời Vực Quành, Quảng Bình
114. Nguyễn Đức Thọ, Hà Nội
115. André Menras – Hồ Cương Quyết, Pháp
116. Nguyễn Văn Kích, nguyên Vụ trưởng, thành viên Ban Nghiên cứu Thủ      tướng Chính phủ Phan Văn Khải
117. Phạm Quang Tú, Phó Viện trưởng Viện Tư vấn phát triển, Hà Nội
118. Nguyễn Trọng Nhân, nhiếp ảnh, Tiền Giang
119. Trần Minh Phú, Đà Nẵng
120. Nguyễn Quốc Bình, kỹ sư cấp thoát nước, TP HCM
121. Đặng Danh Ánh, hưu trí, TP HCM
122. Nguyễn Văn Mỹ, Giám đốc công ty du lịch Lửa Việt
123. Nguyễn Quốc An, hưu trí, Hà Nội
124. Bùi Phương Linh, chuyên viên, Hà Nội
125. Đào Thanh Thủy, hưu trí, Hà Nội
126. Hoàng Thị Nhật Lệ, cán bộ về hưu, TP HCM
127. Hà Thúc Huy, PGS TS, Đại học Khoa học Tự nhiên TP HCM
128. Võ Văn Tạo, nhà báo, Nha Trang, Khánh Hòa
129. Phạm Văn Quang, TS, giảng viên đại học, Đồng Nai
130. Đào Thanh Thủy, hưu trí, Hà Nội
131. Vũ Quang Chính, nhà lý luận phê bình phim, Hà Nội
132. Nguyễn Thị Minh Lê, Hà Nội
133. Nguyen Thi Minh Dung, Doctor of Pharmacy, Hoa Kỳ
134. Nguyễn Hữu Chuyên, giáo viên, Thái Bình
135. Tôn Đức Hải, kỹ sư, hai.ton@truongtonco.com
136. Nguyễn Trọng Huấn, kiến trúc sư, nguyên Tổng biên tập báo Kiến trúc và Đời sống
137. Mai Nguyen, giáo viên, Hoa Kỳ
138. Nguyễn Cảnh, Hoa Kỳ
139. Nguyễn Quốc Cẩm, công dân Hà Nội
140. Nguyễn Mạnh Cường, kỹ sư, luật sư, TP HCM
141. Nguyễn Tiến Tài, hưu trí, Hà Nội
142. Phạm Quỳnh Hương, nhà xã hội học, Hà Nội
143. Tương Lai, nguyên thành viên Tổ Tư vấn của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Ban Nghiên cứu của Thủ tướng Phan Văn Khải, thành viên của Viện IDS, nguyên Viện trưởng Viện Xã hội học Việt Nam

Chủ Nhật, 30 tháng 9, 2012

Trung thu bọ Lập

Trung thu bọ Lập

Đêm nay bọ Lập đứng  ở ban công nhìn ra sông Sài Gòn. Trăng ngàn và gió biển bao la khiến lòng bọ man mác nghĩ tới trung thu và nghĩ tới các em
 Trăng đêm nay sáng soi xuống đất nuớc Việt Nam suýt độc lập yêu quý của các em. Trăng sáng mùa thu vằng vặc chiếu khắp thành phố, làng mạc, núi rừng, nơi quê huơng thân thiết của các em…
 Bọ Lập nhìn trăng và nghĩ tới ngày mai…
 Ngày mai, các em có quyền mơ tưởng một cuộc sống tuơi đẹp vô cùng. Mươi mười lăm năm nữa thôi, các em sẽ thấy cũng dưới ánh trăng này, không còn những kẻ phá rừng làm thủy điện; Không còn những đập thủy điện được liều mạng xây cất  nơi  đứt gãy vỏ quả đất, nơi chứa đựng vô vàn những trận động đất, như thủy điện sông tranh 2. Cũng không còn những Vinalies, Vinashin  và vô số Vina khác. Chúng đã biến mất tăm cùng với bè lũ tham nhũng tham lam và độc ác.
Ở giữa biển rộng, cờ đỏ sao vàng phấp phới bay trên những con tàu lớn. Đường lưỡi bò đã biến mất tăm, Hòang Sa đã thuộc về Việt Nam, Hoàng  Sa- Trường Sa vĩnh viễn của Việt Nam. Nếu  Trung Quốc lại lăm le xâm hại  biển đảo nước nhà, các em sẽ tha hồ cầm biểu ngữ xuống đường đi biểu tình chống Trung Quốc xâm lược mà không bị sĩ nhục, bị bắt bớ, bị đạp vào mặt.
 Các em được hưởng những gì thực sự là tự do, là dân chủ để cùng nhau xây dựng một Việt Nam hạnh phúc phồn vinh. Khi đó Việt Nam là của chính các em, hạnh phúc  của các em và sự tồn vong của nước Việt do chính các em lo lấy. Sẽ không còn cái gọi là mọi việc có đảng chính phủ lo. Và việc chống lại những sai trái của chính quyền là nghĩa vụ của các em, là đạo đức của người trí thức. Khi đó Điếu Cày và Cù Huy Hà Vũ sẽ là tấm gương sáng của các em về lòng quả cảm, đức hy sinh của những trí thức biết tư duy độc lập.
 Trăng của các em sẽ soi sáng trên đầm cá Đoàn văn Vươn, rải  ánh sáng vàng tươi trên đồng lúa Văn Giang bát ngát được thu hồi từ bè lũ cướp đất của nông dân, cùng với gương mặt người nông dân vui tuơi, hạnh phúc sống tự do trên chính đất đai của họ.
 Trăng đêm nay chưa sáng ! Trăng mai  không chắc đã sáng hơn. Bọ Lập mơ về một trung thu không còn lũ lú lấp, lũ quan tham, bọn bè cánh và lợi ích nhóm.  Bọ mong ước ngày mai đây, ánh trăng  độc lập- tự do- hạnh phúc sẽ đến với các em, chiếu khắp bốn cõi nước Việt Nam ta.
( Nhại theo Trung thu độc lập của Thép Mới)

Thứ Năm, 6 tháng 9, 2012

TỪ VIỆC “BẦU” KIÊN NGHĨ ĐẾN BI KỊCH Ơ-ĐÍP LÀM VUA

Lê Phú Khải



"Người ta bắt bầu Kiên để chống tham nhũng, để chỉnh đốn và củng cố Đảng. Nhưng nếu truy đến cùng, nguyên nhân của tham nhũng chính là một xã hội không có kỷ cương, pháp luật. Quyền lực của người có chức vụ cao đứng trên pháp luật. Đảng cũng đứng trên pháp luật. Vì thế, càng củng cố Đảng thì tham nhũng càng nhiều. Không có tam quyền phân lập, báo chí tự do, Quốc hội do dân bầu… thì nói chuyện chống tham nhũng chỉ là nói cho vui mà thôi. Vì thực tế cho thấy nhỡn tiền, Đảng càng chống tham nhũng thì tham nhũng càng phát triển. Quyền lực không hạn chế,  vẫn còn đó các nhóm lợi ích thì bắt bầu Kiên này lại có bầu Kiên khác xuất hiện mà thôi !".

Bầu Kiên bị bắt để chống tham nhũng, chấn chỉnh Đảng… lùm xùm dư luận, làm cho tôi liên tưởng đến bi kịch “Ơ-đíp làm vua” của Xô-Phốc (429 TCN) từ mấy nghìn năm trước. Marx sinh thời rất  hâm mộ Xô-Phốc. Có lần, con gái Marx hỏi :  Cha thích những tác phẩm nào nhất? Marx kể ra ba người, Xô-Phốc, Sếch-pia và Gớt.


“Ơ-đíp làm vua” là vở bi kịch bất hủ dựa theo truyền thuyết Hy Lạp. Ở một quốc gia nọ có một ông vua sinh hạ được một hoàng tử. Một hôm, nhà tiên tri đến bảo vua rằng, đứa bé này sẽ giết cha và lấy mẹ (!). Vua sợ quá, bèn sai người tâm phúc đem đứa bé lên núi giết đi. Nhưng người được vua sai thấy đứa bé kháu khỉnh dễ thương nên không nỡ giết mà vứt vào một hang đá trên núi rồi ra về. Một ông thầy tu ở nước bên cạnh đi hái thuốc, thấy đứa bé mặt mũi khôi ngô liền nhặt về nước mình và đem cho nhà vua không có con trai. Nhà vua nhận đứa bé giấu trong cung cấm và tuyên bố nó là con đẻ của mình. Đứa bé lớn lên khôi ngô tuấn tú, thông minh khác thường. Một hôm có nhà tiên tri đến bảo nó rằng : Mi sẽ là kẻ giết cha lấy mẹ ! Sợ quá, cậu ta bỏ cung cấm và trốn sang nước bên cạnh. Ông vua nước bên cạnh vốn là cha đẻ của người thanh niên tuấn tú này, từ khi “giết” con mình đã suy nghĩ và lâm bệnh. Vua bỏ ngai vàng và đi theo một đảng cướp.

Trên đường sang nước láng giềng, cậu thanh niên tuấn tú nọ đã đánh nhau với đảng cướp và giết ngay chính cha đẻ của mình. Theo tục lệ của nước này, nếu ai phá được đảng cướp, cứu được dân thì sẽ được lên làm vua và lấy hoàng hậu. Thế là Ơ-đíp, tên cậu con trai tuấn tú đã lấy hoàng hậu, tức mẹ đẻ của mình và trở thành vua Ơ-đíp.

Sau khi Ơ-đíp lên làm vua thì một nạn dịch khủng khiếp xảy ra trong nước không sao dập tắt được. Một hôm có nhà tiên tri bảo với nhà vua rằng, ở quốc gia này có kẻ loạn luân, giết cha lấy mẹ. Nếu không tìm ra được thủ phạm thì nạn dịch sẽ giết cả bàn dân thiên hạ !

Là một ông vua sáng suốt, quả cảm và thương dân, Ơ-đíp đã lập một chuyên án để quyết tìm ra thủ phạm đã giết cha, lấy mẹ trong quốc gia của mình, để cứu muôn dân. Nhưng bi thảm thay, càng lần theo đầu mối từ trong cung vua ra đến nước láng giềng, Ơ-đíp càng ngày càng nhận ra thủ phạm lại chính là mình. Nhưng quyết tâm dập tắt nạn dịch để cứu vớt đất nước, Ơ-đíp đã lập ra một phiên tòa tại chính  cung đình để xử chính mình. Nhà vua đã rời bỏ ngai vàng… đi lang thang như một kẻ hành khất. Nạn dịch đã được dập tắt. Vở bi kịch bắt đầu từ lúc nhà vua lập ban chuyên án… để lần ra thủ phạm. Viết “Ơ-đíp làm vua”, Xô-phốc đã ngợi ca lý trí của con người. Và ngay lúc ra đời, “Ơ-đíp làm vua” đã trở thành vở bi kịch bất hủ, một trong những tác phẩm văn học vĩ đại nhất của loài người, sánh với Hăm-lét của Sếch-pia, Phao-tơ của Gớt…

Nạn tham nhũng ở nước ta hiện nay “nhìn đâu cũng thấy, sờ đâu cũng có”, bất cứ làm một việc gì cũng phải có tiền để mua, để hối lộ; đến người  bệnh cũng phải dúi tiền cho y tá mới khỏi khỏi bị tiêm đau; xin con vào trường học để được giáo dục cũng phải lót tiền cho  thầy cô có chữ… thì nhân cách con người Việt Nam đã xuống  đến độ Âm mất rồi. Người ta bắt bầu Kiên để chống tham nhũng, để chỉnh đốn và củng cố Đảng. Nhưng nếu truy đến cùng, nguyên nhân của tham nhũng chính là một xã hội không có kỷ cương, pháp luật. Quyền lực của người có chức vụ cao đứng trên pháp luật. Đảng cũng đứng trên pháp luật. Vì thế, càng củng cố Đảng thì tham nhũng càng nhiều. Không có tam quyền phân lập, báo chí tự do, Quốc hội do dân bầu… thì nói chuyện chống tham nhũng chỉ là nói cho vui mà thôi. Vì thực tế cho thấy nhỡn tiền, Đảng càng chống tham nhũng thì tham nhũng càng phát triển. Quyền lực không hạn chế,  vẫn còn đó các nhóm lợi ích thì bắt bầu Kiên này lại có bầu Kiên khác xuất hiện mà thôi !

Liệu những người cộng sản Việt Nam có dám lập một Tòa án như Ơ-đíp 2000 năm trước để tìm ra đích danh thủ phạm của quốc nạn tham nhũng hiện nay để cứu đất nước, để tìm lối thoát cho Đảng hay không ?

Xin kính hỏi ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng ?

LPK – 9/2012.